* KAIO.PRO - Hệ thống Bán Vàng, Ngọc Xanh, Đồ Item Tự Động 100% của GameHub.Pro
* Shop bán Vàng, Ngọc Xanh tự động
* Shop bán Nick tự động

Văn Mẫu Hay 12 : Cảnh sắc và con người đất kinh kỳ trong thơ văn thời thịnh L

Nói đến thơ văn thời thịnh Lê, dễ có cảm tưởng chúng mang đậm tính chính thống, quan phương, và kinh đô khi được tái hiện lại trong nhóm tác phẩm ấy cũng khó xa rời mục đích chính trị - yếu tố dễ khiến sáng tác nghệ thuật trở nên khuôn sáo. Nhưng nếu quan sát kỹ hơn, có thể thấy bên cạnh tính quy phạm không thể phủ nhận, vẫn còn đó trong thơ ca thời thịnh Lê nét đẹp thi vị dễ quyến lòng người của cảnh sắc và con người trên đất kinh kỳ.
Công bằng mà xét, phải đâu tính chất cung đình, tụng ca của văn học giai đoạn này chỉ mang đến bất lợi cho văn học, mà nhìn từ góc độ khác, đã tạo nên những vần thơ giàu mỹ cảm, là “lời ca chân thành và say sưa của các thi sĩ trước cảnh sắc thiên nhiên, cuộc sống thanh bình”. Rõ ràng là dưới triều vua Lê Thánh Tông, khi lực lượng sáng tác chuyển sang quy tụ hoàn toàn ở phía nhà nho thì kinh đô, mảnh đất gắn liền với cuộc đời của nhiều nho sĩ, đã dần trở thành không gian quen thuộc gợi nên biết bao xúc cảm. Chính vì thế, ít nhiều bức tranh Thăng Long trong văn học thời thịnh Lê vẫn có sức hấp dẫn riêng, phần nào thể hiện được cảm nhận tinh tế của các tác giả trước vẻ đẹp quê hương buổi thịnh triều.

Trong cảm hứng ngợi ca “Nhà nam nhà bắc đều no mặt – Lừng lẫy cùng ca khúc thái bình”– nguồn cảm hứng chủ đạo của thời đại tạm ngừng việc võ, bắt đầu sửa sang việc văn – bức tranh kinh thành hiện lên rạng rỡ. Các nhà nho hào hứng xướng họa, ngâm vịnh về cảnh đẹp quê hương, trong đó có Thăng Long, say mê trước cuộc sống thái bình dần được khôi phục sau nhiều năm đất nước bị giặc Minh tàn phá nghiêm trọng. Không còn khung cảnh ngọc kinh mờ dưới cơn mưa chiều(5) những năm triều Trần suy yếu, giờ đây mỗi danh thắng của đất đế đô đều mang vẻ bề thế, vững chãi. Cảnh xuất hiện trong thơ có thể rất khác nhau, từ chùa An Quốc uy nghiêm trấn giữ đế kinh:
“Trung lập kiền khôn vững đế đô,
Mảng danh An Quốc ở Tây Hồ.
Xuân thu thêm có mười phân lạ,
Hoa cỏ đành hay một thức phô.”
(Lê Thánh Tông, Chùa An Quốc)
đến hồ Tây tĩnh lặng, thơ mộng:
“Vằng vặc trời thanh đọt đọt cây,
Thảnh thơi ngày tĩnh cảnh hồ Tây.”
(Khuyết danh, Hoa sen lúc tạnh mưa)
Nhưng cái giọng đĩnh đạc, thảnh thơi, cái sắc thái tràn trề, viên mãn, vạn vật đua nở “mười trượng hoa thì mười trượng hương” lại không hề sai biệt. Đặc biệt trong thơ Lê Thánh Tông xướng họa với quần thần, nét sang trọng của cảnh sắc kinh đô càng hiển hiện rõ rệt. Với niềm tin ca ngợi Thăng Long cũng là ca ngợi “thế nước vững như bàn thạch, ngôi vua rạng rỡ như sao Cơ, sao Dực”, các nhà nho gửi cả tấm lòng hứng khởi nhiệt thành vào bức tranh kinh đô những năm phồn thịnh. Từng ngọn cỏ, nhành cây Thăng Long, qua đôi mắt của lớp tác giả đại diện cho cả một chế độ phong kiến đang lúc thịnh đạt này, thường vượt khỏi nét nghĩa thực để vươn đến những tầng ý nghĩa rộng lớn hơn. Một cây me giữa kinh thành cũng được ví von như bạn của đấng công hầu:
“Mấy phút từng nhờ ơn vũ lộ,
Tư mùa chẳng khỏi bạn công hầu.
Chẳng hay là đã bao nhiêu kiếp,
Chờ trạng hằng che thuở gác lầu.”
(Khuyết danh, Cây me trong thành cấm)
còn cảnh hồ Tây lại biến thành tấm gương lớn soi bóng nước non ngàn dặm:
“Nhìn xa bóng núi bao trùm;
Ngó xuống gương hồ sáng tỏ.
Lẫn một sắc với vòm trời;
Ngậm muôn hình trong viễn phố.”
(Lê Thánh Tông, bài phú nằm trong truyện Gặp tiên ở hồ Lãng Bạc)
Bài phú trên được Lê Thánh Tông ghi lại trong câu chuyện huyễn hoặc Gặp tiên ở hồ Lãng Bạc (Thánh Tông di thảo). Có thể xem đấy là tác phẩm đầu tiên thuộc thể phú, với ưu thế về khả năng miêu tả những cảnh tượng rực rỡ, xa hoa, đã khắc họa khá tỉ mỉ khung cảnh hồ Tây – Thăng Long, đồng thời tổng kết lại mấy trăm năm thăng trầm của lịch sử dân tộc. Đáng chú ý hơn, ở đây một mặt Thăng Long tồn tại như chứng nhân lịch sử gìn giữ vết tích của các triều đại trước nhưng mặt khác, chính lịch sử đã trở thành yếu tố quan trọng dự phần vào nét độc đáo của Thăng Long. Những sự kiện “đem hà đồ lại biếu”, “bưng kiếm báu dâng lên”, những cuộc chơi “săn được người hóa hổ”, “nghi vệ rườm rà”, tất cả khoác lên mảnh đất này vẻ phồn hoa, sang trọng, dồn tụ phúc khí đế vương mà vùng miền khác không thể sánh được:
“Thành lớn Thăng Long chốn ấy;
Kinh đô triều đại xưa kia.
Là nơi danh thắng;
Cờ quạt đi về.
Nhớ triều Lý đương khi toàn thịnh;
Thường thả thuyền cưỡi sóng nhởn nhơ.
Nhờ ông chài là tay dũng kiệt;
Săn được người hóa hổ giỡn vua chơi.
Rồi kế đó nhà Trần trỗi dậy;
Đã đến đây trồng sen, vịnh thơ.
Nào đền đài xây cao chót vót;
Nào cuộc chơi nghi vệ rườm rà.

Trâu nâng kiệu ngọc;
Phượng đỡ xe loan.
Chim âu lượn trên làn sóng biếc;
Đàn cá nhỏ mặt nước chờn vờn.
Tia đội vùng ô lấp lánh;
Bóng chìm ngọc bích chập chờn.
Già ngũ lão đem hà đồ lại biếu;
Người kim nhân bưng kiếm báu dâng lên.”
Chẳng những vậy, lịch sử còn để lại nhiều bài học giá trị về quy luật tồn vong của các vương triều:
“Phải chăng thịnh suy có số;
Hay là trong đục tự người?”
Tuy mối quan hệ giữa mệnh trời và đức nhân là vấn đề thường được nhắc đến trong văn học trung đại song với trường hợp vua Lê Thánh Tông, sự đúc kết trên lại có một ý nghĩa sâu sắc. Bản thân nhà vua bằng sự nghiệp chính trị đã dùng tất cả tâm sức mở ra một thời kỳ thịnh vượng, cho nên những chiêm nghiệm của ông về vận nước thể hiện qua thơ văn, ngay cả thơ văn xướng họa, không phải chỉ là lời nói tán tụng suông mà còn hàm chứa tầm nhìn xa rộng của bậc đế vương. Vì thế, có quá lời chăng nếu nói rằng: suy cho cùng cái choáng ngợp của đình đài chỉ mang đến cho kinh đô vẻ hào nhoáng bên ngoài, còn nét sang trọng thật sự lại ẩn sâu trong những suy ngẫm lớn lao và minh triết về chân lý giữ nước mà người Tràng An đã đúc kết qua thơ văn của mình?

Như vậy, không thể phủ nhận trong thơ văn xướng họa, quan hệ quân – thần luôn đòi hỏi ở tác phẩm tính chuẩn mực, quy phạm. Đồng thời, dưới sự tác động mạnh mẽ của hệ tư tưởng chính thống nho giáo, hình ảnh cảnh vật và con người Thăng Long trong văn chương cũng được lọc qua mỹ cảm đậm màu nho. Tuy nhiên, dù gắn liền với triết học và chính trị đến đâu thì văn chương vẫn không phải là triết học và chính trị. Tự thân các hình ảnh thơ, ngoài ý nghĩa biểu tượng mang tính công thức, còn có sức gợi cảm riêng nhờ nghệ thuật miêu tả tinh tế. Bên cạnh đó, sự góp mặt của chữ Nôm như một ngôn ngữ nghệ thuật đích thực ở thế kỷ XV đã mở ra cho thơ ca khoảng trời sáng tạo mới, làm mềm đi cái khô cứng, sáo mòn của văn chương ca tụng. Tất cả các yếu tố này xuyên thấm vào nhau cùng tái hiện nên một Thăng Long với những tính chất tưởng như hoàn toàn đối lập: sang trọng nhưng vẫn có nét gần gũi, đúng chuẩn mực nhưng đồng thời đã manh nha nhiều biểu hiện vượt thoát khỏi tính khuôn sáo, công thức. Ngay cả “chủ soái” Lê Thánh Tông với ngòi bút có vẻ rất trang nghiêm khi vịnh cảnh chùa An Quốc “trung lập kiền khôn vững đế đô” cũng không giấu được một thoáng trữ tình đầy ý vị ở hai câu thơ cuối:
“Kìa ai đủng đỉnh làm chi đấy?
Một tiếng kình khua một chữ mô.”
Nhà vua đang hỏi các vị thiền sư chăng? Cái giọng điệu “kìa ai… đấy” lẽ nào dành cho bậc tu hành đắc đạo? Hẳn phải có duyên cớ nào đó để Thăng Long trong nhiều thế kỷ sau vẫn còn truyền tụng những giai thoại gắn liền với tâm hồn đa tình của vua Lê Thánh Tông. Công dư tiệp ký (Vũ Phương Đề) ở thế kỷ XVIII có ghi chép lại câu chuyện tương ngộ “hồn bướm mơ tiên” giữa quân vương và giai nhân xảy ra ở chùa Ngọc Hồ - danh lam đất đế kinh. Chuyện kể rằng nhân đến Quốc tử giám, vua Lê Thánh Tông đi qua chùa Ngọc Hồ, ghé vào thăm chùa, có duyên gặp gỡ một ni cô rất đẹp, lại giỏi thi từ. Vua và ni cô từng cùng nhau bình thơ, sau đó ngài phục tài, mời ni cô về cung nhưng đến cửa Đại Hưng thì ni cô biến mất. Nhà vua lấy làm lạ, cho là tiên giáng trần, bèn làm Vọng tiên lâu để kỷ niệm. Ngỡ như Thăng Long chỉ là mảnh đất của lịch sử các vương triều, ấy thế nhưng không phải. Chốn đô hội này còn là nơi “cực lạc”, lưu giữ cả những vần thơ đong đầy tình cảm, có khả năng làm rung động lòng người:
“Bể ái nghìn tầm mong tát cạn,
Sông êm muôn trượng chửa khơi vơi.
Nào nào cực lạc là đâu đó,
Cực lạc là đây, chín rõ mười!”
(Thân Nhân Trung, Qua chùa Ngọc Hồ gặp tiên)
Có thể nhìn thấy trong tâm hồn mỗi nhà thơ, Thăng Long luôn rất thơ mộng. Đoan chắc đấy chính là lý do vì sao các thi nhân đặc biệt yêu mến cảnh đẹp hồ Lãng Bạc. Có cái gì đó tao nhã, thanh bạch mà bình dị bàng bạc trong ánh trăng, phảng phất sau dáng vẻ tinh khôi của cành sen nơi hồ Tây:
“Bắc khuyết vô thư can thế dự,
Tây hồ hữu nguyệt cấp thi bần.”
(Thái Thuận, Đề Toán Viên phường sở cư bích thượng)
(Không dâng thư lên cửa bắc để cầu cạnh tiếng tăm ở đời,
Chỉ có trăng hồ Tây cung cấp cho cảnh sống thanh bạch của khách thơ.)(8)
(Thơ đề vách nhà tại phường Toán Viên)
hay:
“Vằng vặc trời thanh đọt đọt cây,
Thảnh thơi ngày tĩnh cảnh hồ Tây.
Mưa thuở sịch, hài xanh chúc,
Gió khi thổi, tán lục xoay.”
(Khuyết danh, Hoa sen lúc tạnh mưa)
Không bàn đến tính ước lệ, tượng trưng thường thấy trong thơ vịnh, chỉ nhìn vào những đường nét miêu tả, thực sự đấy là một bức tranh mới mẻ về hoa sen và cảnh hồ Tây. Cái mới dễ nhận thấy nhất nằm ngay trong hình ảnh. Ngôn từ như đang cựa quậy, khắc nổi lên trên trang thơ hình ảnh lá sen lúc cuộn thành chiếc hài xanh trong cơn mưa, khi lại giương tròn thành tán lá xoay theo cơn gió. Nhưng ngoài ra, còn cái mới khó nhận thấy hơn được che giấu khéo léo sau nụ cười hóm hỉnh, ý nhị. Hãy thử xem cành sen hồ Tây lúc đã tàn có thể gợi nên sự liên tưởng phong phú tới mức nào:
“Trận hoa tướng đã cờ xanh cuốn,
Cung nước tiên còn tán cú giương.”
(Khuyết danh, Sen già)
Cặp hình ảnh “tướng – cờ xanh cuốn”, “tiên – tán cú giương” dẫn dắt người đọc đến với ẩn dụ đầy bất ngờ về biểu tượng phồn thực và hoạt động tính giao. Hồ Tây bây giờ không phải được nhìn ngắm qua đôi mắt của các quan công khanh, sĩ đại phu mà đang hiển hiện đầy sức sống dưới nét vẽ đậm màu văn hóa dân gian của người bình dân, bước đầu góp phần thể hiện cá tính độc đáo và vẻ đẹp đa dạng của văn học Thăng Long.

Chỉ với những tác phẩm mang cảm hứng ca tụng trên, bức tranh Thăng Long xưa cũng đủ làm rung động người đọc nhiều thế hệ. Nhưng thú vị hơn là sang trọng và tươi vui không phải âm điệu duy nhất vang lên trong toàn bộ tác phẩm viết về Thăng Long thời thịnh Lê. Các thi nhân sau khi cởi bỏ chiếc áo con người chức phận, với tâm hồn mẫn cảm và đôi mắt thấu suốt cuộc đời, đã nhìn thấy ở Thăng Long một sắc thái khác đối nghịch với vẻ ngoài lộng lẫy. Họ lắng nghe được vọng ra từ cung vàng điện ngọc thâm nghiêm là tiếng khóc thương ai oán của những thân phận nhỏ bé trước quyền lực đế vương. Nối tiếp Khuê oán (Trần Nhân Tông), Đồ

Facebook Google Plus

• Bài Viết Cùng Chủ Đề
Văn Mẫu Hay 12 : Để có hạnh phúc Văn Mẫu Hay 12 : Để có hạnh phúc
Văn Mẫu Hay 12 : Đậm đà chất sử thi Rừng Xà nu Văn Mẫu Hay 12 : Đậm đà chất sử thi Rừng Xà nu
Văn Mẫu Hay 12 : Đất Nước qua dòng suy tưởng của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm Văn Mẫu Hay 12 : Đất Nước qua dòng suy tưởng của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm
Văn Mẫu Hay 12 : Đoạn 3 bài Tây Tiến Văn Mẫu Hay 12 : Đoạn 3 bài Tây Tiến
Văn Mẫu Hay 12 : Điều gì khiến bạn sợ nhất khi phân tích tác phẩm ''Vợ Nhặt' Văn Mẫu Hay 12 : Điều gì khiến bạn sợ nhất khi phân tích tác phẩm ''Vợ Nhặt'

Quy định sử dụng | Thông tin liên hệ
Thế Giới Giải Trí Di Động
© 2017 Tai Game Java DMCA.com Protection Status